My properties

Monday, May 15, 2006

Trần Ngọc Vương
Nhân quả Đông du

1. Đông du, tại sao? Ai là người dù chỉ sơ bộ tìm hiểu lịch sử Việt Nam cũng đều có thể biết về phong trào Đông du, vậy nên miễn phải trả lời câu hỏi “Đông du là gì?”. Nhưng cứ như những gì tôi tri kiến được, thì với câu hỏi “Đông du, tại sao?”, những câu trả lời cho đến nay chưa hẳn đã làm các bậc thức giả hoàn toàn yên tâm. Vậy, bài viết này chủ yếu xin được dành cho việc làm sâu sắc thêm, dù chỉ là đôi chút, sức thuyết phục của những câu trả lời ấy. 1.1. Phong trào Đông du trước hết là sự tiếp tục tinh thần chống thực dân Pháp bằng bạo lực, một sự nối tiếp của phong trào Cần Vương. Tình hình tư liệu cho tới nay cho phép mô tả một bức tranh nhận thức của tầng lớp trí thức nhà Nho, đội ngũ quan lại và triều đình nhà Nguyễn về tình hình đất nước ngay từ những ngày đầu thực dân Pháp xâm lược, không còn đơn giản như những gì vài chục năm trước đây thường thấy trong các tài liệu lịch sử. Không đơn giản rằng trong triều đình chỉ tồn tại hai phái chủ chiến hay chủ hòa, và phái chủ hòa cũng không dễ dàng đồng nhất với phái chủ hàng. Quả thực, giữa những người thuộc phái chủ hòa không ít người bạc nhược, vô trách nhiệm hay táng tận lương tâm, và trong số những người ủng hộ hoặc tự mình duy trì tinh thần và hành động chủ chiến cũng không ít người có tư tưởng ngu trung, hoặc ít ra là thiếu tầm nhìn viễn kiến về mặt chính trị, lạc hậu quá mức đối với những gì đang diễn ra trên thế giới và trong khu vực. Tuy nhiên, phân tích sâu vào tiểu sử của các đại diện cả hai phái thường được chỉ ra trong lịch sử, lại có thể nhìn ra những sắc thái thật sự phức tạp. Phan Thanh Giản, Nguyễn Văn Tường, Trần Tiễn Thành... dần hiện lên trong mắt chúng ta như những số phận bi kịch chứ không đơn giản là những kẻ hèn nhát “chủ hòa mà thực chất là chủ hàng”, và Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích... cũng không thể nào chỉ được nhìn như những thần tử trung thành, mẫn cán chỉ biết quyết tử đến cùng mà không thể nào lại không phải là những người trong khi kiên trì một sự lựa chọn, vẫn ý thức rõ ràng về tính vô vọng của tình huống lịch sử mà đất nước đã lâm vào. Trong lịch sử của một quốc gia, một dân tộc hay một xã hội vẫn thường hiện hữu những thời điểm mà ở đó, lúc đó cả những người sáng suốt nhất, thậm chí có thể là vĩ nhân trong những hoàn cảnh khác, những thời điểm khác, cũng không thể nào đưa ra những phương án khả dĩ làm cho quốc gia hay xã hội ấy thoát khỏi bế tắc hay khủng hoảng. Chính vì vậy mà các bậc minh triết Đông lẫn Tây xưa nay vẫn là các bậc minh triết của chữ “thời”. Bởi hiểu được niềm bi thống trong lời than thở của Mi Sơn Tô Lão Tuyền: “Thiên hạ sắp bị tai họa mà ta được tiếng là tiên tri, đáng buồn thay!” mà Nguyễn Lộ Trạch, một trong những triết nhân như thế vào buổi bĩ cực của quốc gia vẫn phải tự nhủ mình và lay gọi người, rằng “Có trách nhiệm với đời một ngày thì cũng có việc làm của một ngày. Người quân tử rất ghét những kẻ lấy cớ thời vận để thoái thác trách nhiệm” (Nguyễn Lộ Trạch – Thiên hạ đại thế luận). Nhưng một khi tất cả những gì diễn ra trên đất Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ XIX nhìn từ góc độ vận mệnh quốc gia có thể tóm tắt là “chiến không nổi, thủ không xong, hòa không được, hàng thì mất hết!’’ thì những người sáng suốt tâm huyết với vận nước sau bao phen vật vã tinh thần đã không thể khác được phải tiến gần tới một đáp án có tầm viễn kiến chính trị: kêu gọi tập hợp quốc dân nỗ lực duy tân để tự cường, một cuộc lột xác đòi hỏi đức kiên nhẫn lâu dài của các cá nhân lẫn các phong trào. Khi không tồn tại những đại diện đầy đủ thẩm quyền của một triều đình kháng chiến, tiếng súng Cần Vương trên phạm vi cả nước yên ắng dần. Với cái chết của Phan Đình Phùng, vị “sơn trung tể tướng” cuối cùng, phong trào Cần Vương đã chính thức trở thành sự kiện lịch sử được khép lại. Nhưng chính từ hai địa bàn mà phong trào Cần Vương từng bùng lên mãnh liệt nhất và được duy trì lâu dài nhất là Nghệ-Tĩnh và Nam-Ngãi lại đã xuất hiện hai nhân vật mới, nhanh chóng trở thành lãnh tụ của phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX. Như mọi người đều biết, Phan Châu Trinh được coi là lãnh tụ của phong trào Duy tân và cũng là lãnh tụ của những hoạt động yêu nước được tổ chức theo tinh thần công khai, về danh nghĩa là hợp pháp, đương thời gọi đó là “minh xã”, còn Phan Bội Châu là lãnh tụ của phong trào chủ trương tiếp tục con đường vũ trang bạo động, đấu tranh vũ trang lật đổ chính quyền thực dân, vì thế mà ngay từ đầu bị chính quyền thực dân và Nam triều coi là bất hợp pháp, dĩ nhiên là “ám xã”. Cả hai người đều có uy tín và ảnh hưởng lớn đến tinh thần yêu nước của quốc dân trên phạm vi cả nước nói chung, Nghệ-Tĩnh và Nam-Ngãi nói riêng, nhưng điều dễ nhận thấy là ảnh hưởng của mỗi người trước hết mạnh mẽ nhất ở vùng quê của họ. Cả “minh xã” lẫn “ám xã” đều có cơ sở sâu rộng ở Nghệ-Tĩnh lẫn ở Nam-Ngãi, nhưng như vừa nói, phong trào Duy tân sôi nổi nhất là ở Nam-Ngãi mà phong trào Đông du thì được sĩ phu và quần chúng yêu nước Nghệ-Tĩnh hưởng ứng tâm huyết nhất. Điều dễ nhận thấy là nhìn chung và trong suốt cả một thời gian khá dài, Phan Bội Châu về cơ bản chấp nhận những hoạt động của phong trào Duy tân, tuy ít nhiều miễn cưỡng và bất đồng cục bộ. (Các sử gia trong các bộ sử chính thức khẳng định rằng hội mà Phan Bội Châu cùng Nguyễn Hàm, Cường Để, Lê Võ, Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân... lập nên tại nhà Nguyễn Hàm đầu năm 1904 có tên là Duy tân hội, tuy nhiên căn cứ vào tư liệu lịch sử còn lại đến nay thì việc xác định tên của hội này còn nhiều tình tiết phức tạp, vẫn có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tên của hội không phải là Duy tân, và nếu căn cứ vào những hoạt động thực tế của hội những năm kế tiếp ngay sau đó thì đường lối cơ bản của nó không phải là Duy tân, cho dù tên hội có là thế!). Đối với việc sáng lập và tổ chức hoạt động của trường Đông Kinh nghĩa thục (mà tinh thần cơ bản, tôn chỉ của nhà trường là gần gũi hơn với “minh xã”, tức với phong trào Duy tân), thậm chí Phan Bội Châu còn có vai trò chủ động, tích cực. Nhưng Phan Châu Trinh đối với hoạt động của “ám xã” nói chung, của phong trào Đông du nói riêng, lại giữ một lập trường nhất quán: kiên quyết phản đối. Những người hoạt động cứu nước đương thời không mấy ai không biết đến câu nói nổi tiếng phản ánh lập trường quyết liệt của ông: “Bất bạo động, bạo động tắc tử; bất vọng ngoại, vọng ngoại giả ngu” (Chớ bạo động, bạo động thì chết; chớ vọng ngoại, vọng ngoại là ngu). Người đề nghị con đường Đông du sang Nhật và cũng là người “tác thành” cho Phan Bội Châu trở thành lãnh tụ Đông du là Nguyễn Thành (tự Tiểu La, còn có tên khác là Nguyễn Hàm), một “đảng nhân” tích cực của phong trào Cần Vương mươi năm trước. Có đủ chứng cớ lịch sử để khẳng định phong trào Đông du là sự toan tính của những người yêu nước tiếp tục theo đuổi việc giành lại độc lập dân tộc bằng phương pháp bạo lực, bằng đấu tranh vũ trang. Khi trong phạm vi “quốc nội” không thể tìm ra biện pháp nào để tái vũ trang có hiệu quả nhưng khối “quần chúng” của chủ trương đó thì còn rất đông đảo, mà tầng lớp sĩ phu Nghệ-Tĩnh, vì nhiều lý do lịch sử khác nhau, đã từng làm thành hạt nhân trung kiên nhất của tinh thần “bình Tây sát tả” giờ đây vẫn kiên định với lập trường “Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”. Khi việc cầu ngoại viện hướng tới “Thiên triều” Trung Hoa qua chuyến đi sứ bất thành đến mức tan nát cả sứ bộ và bản thân chánh sứ (Phụ chính Đại thần Tôn Thất Thuyết) trở thành “đả thạch lão nhân” vất vưởng rồi mất ở xứ người, thì Nhật Bản hiện lên như “niềm hy vọng cuối cùng”. Tạm gác lại những lý do và động cơ cá nhân, việc Cường Để dễ dàng đồng ý đóng vai trò “tân minh chủ” để “dựng lại ngọn cờ” Cần Vương trong một hoàn cảnh mới cũng góp thêm một bằng chứng về một lối mòn trong tư duy chính trị của sự lựa chọn ấy. 1.2. Nhật Bản trong trí tưởng của các yếu nhân phái “ám xã” và Nhật Bản như quốc gia ấy là thế vào đầu thế kỷ XX. Một khi Trung Quốc còn không thể tự định đoạt quốc vận thì sao còn có thể lo liệu hộ được số phận của cái tiểu quốc phía Nam mà vốn hàng ngàn năm nay tuy bên ngoài luôn tỏ ra “kính cẩn run sợ” thực hiện bổn phận “tiểu quốc sự đại quốc” nhưng trên thực tế đã bao phen khiến Thiên triều lâm vào tình cảnh “bầm gan tím ruột” vì phải nuốt ngược trở về mưu đồ thôn tính? Mà cũng thực lạ, cho đến tận lúc đó, đã bao giờ trong lịch sử các triều đại chuyên chế ở Trung Quốc dù chỉ một lần giúp một vương triều nào đó ở Việt Nam “dựng nước và giữ nước” thành công? Vậy nhưng “dựa uy nước lớn láng giềng”, khổ nỗi, trót trở thành một công thức toan tính ở tầm quốc sách của một bộ phận không thể nói là nhỏ trong lịch đại giới cầm quyền hoặc tự coi là có bổn phận “tu, tề, trị, bình” ở Việt Nam. Tín niệm về tình hữu hảo của những người “anh em” “đồng chủng đồng văn” đã tiếp tục hướng dẫn cái nhìn của những người yêu nước phái “ám xã” mà Phan Bội Châu là người đứng đầu, “đảng trưởng”, sang chỗ người hàng xóm nhà giàu mới phất với một niềm hy vọng lớn lao. Chắc chắn rằng khi còn ở trong nước, Phan Bội Châu vì cũng đã đọc Tân thư, Tân văn, giao tiếp với các nhà nho chí sĩ thức thời và chủ trương Duy tân, với những người từng có cơ hội đi ra hải ngoại nên cũng đã có một vốn liếng hiểu biết không quá đơn sơ về Nhật Bản. Nhưng một cái nhìn sâu sát và toàn cảnh liên quan đến việc đánh giá thực lực cũng như bản chất chế độ chính trị-xã hội của quốc gia này thì chỉ sau khi tới và nếm trải “tại chỗ” những thăng trầm (diễn ra khá dồn dập và khốc liệt) ông và các đồng chí - cũng đồng thời là tín đồ và đệ tử của ông - mới có thể có được. Họ từng bước vỡ lẽ dần, từng bước đi từ thất vọng đến tuyệt vọng. Việc Nhật Bản là quốc gia “đồng văn đồng chủng” với Việt Nam, tức việc cùng chia sẻ những giá trị truyền thống chung trong “thế giới Hán hóa” trước khi gia nhập vào quỹ đạo của thế giới hiện đại, cùng thuộc đại chủng da vàng là những sự thật hiển nhiên không cần mất nhiều thời giờ để bàn cãi. Nhưng dần dà Phan và các đồng sự mới nhận thấy một/ những sự thật khác: còn có nhiều nữa những lý do làm những con người hay những cộng đồng xích lại gần nhau mà cái sự “đồng văn đồng chủng” chỉ tồn tại như là những lý lẽ thứ yếu. Cả Phan Bội Châu, cả các yếu nhân khác của phong trào Đông du đã không thể hình dung, không thể hiểu rằng trong khi Nhật Bản nhờ Minh trị Duy Tân mà nhanh chóng trở nên hùng cường, thành “anh cả da vàng”, thành niềm tự hào của những người và những quốc gia đồng chủng nhưng yếu đuối, trong khi những người anh em, những “bà con nghèo gặp hạn” đang hướng tới Nhật Bản, kỳ vọng vào một tấm tình trắc ẩn, vào một sự hào hiệp giúp đỡ và ban phát tài lực, kinh nghiệm, tri thức, thì cũng là lúc Nhật Bản góp thêm vào đội ngũ những quốc gia tiên tiến một khuôn mặt đế quốc mới bằng cách tự trình diện, với những tham vọng và mưu đồ thôn tính nhắm trước hết vào những “người anh em” “đồng văn đồng chủng” do có sự thuận lợi, gần gũi về mặt địa lý và sự hiểu biết về thực lực của các “bào huynh đệ” - con mồi! Cần lưu ý rằng vào năm Phan Bội Châu sang Nhật cũng chính là thời điểm Nhật Bản xâm lược và chiếm đóng Triều Tiên. Và như đã biết, “miếng mồi” tiếp theo sẽ là “người láng giềng từng là vĩ đại” ở phía mặt trời lặn so với xứ sở Phù Tang! Xa hơn nữa và muộn hơn chút nữa, sẽ là các quốc gia Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. Sự toan tính dùng tài năng, trí lực của một biện sĩ, một thuyết khách ở Phan Bội Châu - điều hiện lên mồn một trong các tài liệu, thư từ mà ông giao dịch với các nhà cầm quyền, các chính trị gia của Trung Quốc và Nhật Bản - cộng hưởng với một nhân cách cá nhân phi phàm và một tấm lòng yêu nước nồng nàn, cháy bỏng da diết đủ khiến cảm động đến cả những kẻ vô tình, ở ông, rốt cuộc, đã không giúp gì nhiều cho việc đạt tới những mục tiêu cao cả mà ông và các đồng chí của mình đã đề ra trên lộ trình cứu nước. Đáng lưu ý là trên đường sang Nhật, Phan Bội Châu cũng từng lưu lại Quảng Châu, và ở đó, Ông đã thử, thông qua một bức thư mà lời lẽ rất gần với văn khí của các biện giả thời Xuân Thu-Chiến quốc nhưng với tâm huyết của một Thân Bao Tư rỏ máu mắt sân Tần, thuyết phục Tổng đốc Quảng Đông Sầm Xuân Huyên, hy vọng ông này có thể hoặc bàn bạc với Thiên triều hoặc tự mình ứng cứu cho nước Việt đang sa cơ lỡ vận. Nỗi niềm da diết của Phan Bội Châu thể hiện qua bức thư thật chân thành; dễ dàng gây nên sự đồng cảm to lớn, nhưng không cần ngẫm ngợi quá kỹ cũng đã có thể nhận ra bên trong hàm một mưu mẹo ngây thơ và, thẳng thắn mà nói, là lỗi thời. Thử cảm nhận lại một phiến tâm tư ông bày tỏ: “Trộm nghĩ, một cõi Việt Nam từ khi bị quỷ Pháp nuốt, rốt cuộc bị Thiên triều bỏ rơi, để cho cái nước vốn trăm năm cùng làm con đỏ mà không được thờ mẹ cha kia đến nay cả hai kỳ đều rơi vào tay bọn bạch nô. Chúng coi nhân dân như cỏ rác, lúc đầu thì dồn ép đuổi bắt, cuối cùng lùa vào cạm bẫy, kẻ vô tội thì bắt làm nô lệ, kẻ huyết khí thì buộc vào tù đày, kẻ khỏe mạnh thì xua ra làm lính, người già yếu thì để cho chết! Ngoài thì lấy hai chữ “bảo hộ” che mắt liệt cường, trong thì dùng mọi thứ tàn bạo, khơi máu mỡ trăm họ cho đầy vạc. Dân đen thì như cá thịt, trông dao thớt mà chí khí tiêu tan, đất đỏ những máu xương, thấy non sông một màu thê thảm... “Cũng có người muốn cắp ngọn dao Kinh Kha, vung mũi dùi Tử Phòng, nhưng thời cơ lại chưa có, động làm là bị hỏng; con rồng thần thất thế đã rõ ràng, trời kia tranh với ai? Con hổ dữ đành thu nanh giấu vuốt, đất đâu còn chỗ mà dụng võ? Than ôi! Lối trời muốn dứt, mở đất không đường. Hồn Phan La Sơn (tức Phan Đình Phùng - TNV) không thể gọi về, khí thiêng Nguyễn Tráng Liệt (tức Nguyễn Thiện Thuật - TNV) e đành tắt mất. Chim hạc hoa biển lại trở về, thành quách thương tâm, bánh xe châu Phi đã đi rồi, bể sâu đằm lệ (nói việc Hàm Nghi bị đày đi châu Phi - TNV); bồi hồi muôn dặm, uất kết bao năm, muốn tay không khảng khái quyên sinh, được cái tiếng mà thành vô bổ, chi bằng thung dung xem biến, đợi tái tạo sẽ có ngày. Không dám tiếc thân, chỉ mong rình hổ” (Phan Bội Châu toàn tập, Chương Thâu sưu tầm và biên soạn, T. 2, NXB Thuận Hóa, Huế, 1990, tr. 13 - 14). Bên cạnh những sắc thái khác, toàn bộ đoạn văn toát lên tinh thần “Hoặc đánh bằng lưỡi, hoặc đánh bằng bút, khăng khăng đòi đánh bằng súng”. Ý niệm “bạo lực bằng mọi giá” thực sự vẫn chi phối mọi hành vi, mọi suy tưởng và biện pháp tổ chức của những nhà yêu nước thuộc phong trào này! Nhật Bản là đích đến của một ý đồ, cũng có thể coi là một chủ trương, hình thành nên trong tình cảnh “lửa đốt lông mày”, không quá xa lối quyết đoán bằng ý chí và mẹo mực của truyền thống nhưng còn lâu nữa mới trở thành khuôn mẫu cần có cho một tư duy chính trị của thời kỳ tư bản chủ nghĩa hóa như vậy! Không đáng ngạc nhiên nếu xuất phát điểm ấy ngầm định những thất bại và thất vọng vị lai, một khi Phan Bội Châu tới được Nhật Bản, dù gặp gỡ, luận đàm và nhận được sự kính trọng cá nhân của hàng loạt chính trị gia, cách mạng gia Trung Quốc, Nhật Bản, trong số đó có những tên tuổi từng, đang hoặc sẽ lẫy lừng như Lương Khải Siêu, Tôn Dật Tiên, Khuyển Dưỡng Nghị (Inukai Tsuyoshi), Đại Ôi Trọng Tín (Okuma Shigenobu), Tiểu Thôn Thị Thái Lang... Nhật Bản đã thành cường quốc, cường quốc duy nhất lúc bấy giờ ở châu Á, đó cũng là điều khi chưa tới đất Nhật Phan Bội Châu và các đồng chí của mình đã biết. Không cần tới cũng biết. Nhưng điều mà cả khi đã tới Nhật Bản, giao thiệp, quan hệ với người Nhật không ít nữa, ông còn chưa thể nhận thấy rõ ràng: Nhật Bản, với tư cách một quốc gia đang đế quốc hóa, không tự thấy có lý do chính trị hay lý do tình cảm chính đáng nào để giúp các cá nhân và các tổ chức cách mạng Việt Nam, dù là giúp ngay trên đất Nhật, dù với mức độ trợ giúp được yêu cầu chỉ tương đương với công việc từ thiện! Ngược lại, chính quyền Nhật Bản sẽ liên thủ tích cực với chính quyền Pháp ở Việt Nam, đáp ứng khá nhanh chóng những yêu cầu gây khó khăn, hạn chế các hoạt động và thậm chí trục xuất những người Việt Nam, mà tuyệt đại đa số là những thanh niên có mặt ở đó theo tiếng gọi cứu nước của các lãnh tụ phong trào Đông du. Tất cả các chính khách Nhật Bản đều từ chối giúp Phan Bội Châu công việc mà ông tha thiết yêu cầu nhất: đặt vấn đề với Thiên hoàng và Chính phủ Nhật giúp Việt Nam đánh Pháp. Tình hình nhanh chóng trở nên bi đát. Một số nhà cách mạng Trung Quốc và cả những người Nhật Bản (như Thiển Vũ, Cung Kỳ Thao Thiên) đã báo trước cho Phan Bội Châu về khả năng chính giới Nhật Bản không những không giúp được gì mà còn rất có thể có những biện pháp mang tính chất gây khó khăn, thậm chí bắt bớ, trục xuất những người yêu nước Việt Nam theo yêu cầu của chính quyền Pháp, và sự cảnh báo đó chẳng bao lâu sau trở thành hiện thực. Lý do chủ yếu khiến Phan Bội Châu và các “đảng hữu” chọn Nhật Bản làm điểm đến nương tựa và cầu viện được chính ông thổ lộ: “Bỉ nhân này từ miền Nam Hải xa xôi, nghe rõ thanh thế oai hùng, vời trông đất nước Phù Tang ba vạn Thần Sơn, khí phách hừng hực như mặt trời mới mọc, mà thấy trong lòng vui mừng phấn khởi, nghĩ rằng châu Á vẫn còn nước lớn, biển Đông vẫn còn khí thế đàn anh, ắt không đến nỗi để cho giống hùm beo Âu Mỹ giày xéo giống da vàng chúng ta. “Vốn từ khi Đại Nhật Bản chiến thắng nước Nga đến nay, nỗi lòng riêng mong ước được gặp ngài (tức Tiểu Thôn Thị Thái Lang, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật lúc đó - TNV). Chân thành nhận thấy một đất nước ngăn chặn dị chủng, không nước nào bằng Nhật Bản, nêu cao quốc thể không nước nào bằng Nhật Bản, coi trọng nhân quyền cũng không nước nào bằng Nhật Bản, tôi muốn cùng với con người luận bàn công lý văn minh, không đến nơi đây thì còn đến nơi nào nữa?” (Phan Bội Châu, “Thư gửi ngài Tiểu Thôn Thái Thị Lang”, Sđd., T. 2, tr. 25). Phan Bội Châu sang Nhật vào giữa năm 1905 (tháng 6, theo chính lời Phan Bội Châu: “tháng 5 ra đi, tháng 6 mới tới nơi”), thoạt đầu, vẫn nhận thấy đó là “một đất nước yên vui, thấy những phường nhân sĩ ở kinh đô, thấy trên từ công hầu, dưới đến đàn bà con trẻ, về tinh thần yêu nước mà nói, thì đốt lòng nhiệt thành lên, bể có thể khô; về tinh thần lo việc công mà nói, thì kết đoàn thể lại có thể vá được trời, lùa muôn hồn Đại Hòa thì thánh thần hiện ra giữa ban ngày, dạo một đạo võ sĩ thì uy thế mạnh hơn gang thép” (Phan Bội Châu “Khuyến quốc dân tư trợ du học văn”, Sđd., T. 2, tr. 35). Ở đất Nhật, Phan Bội Châu tiếp tục hiểu rõ thêm rằng sở dĩ có nước Nhật ngày nay, là bởi họ đã kinh qua một quá trình duy tân chủ động, toàn diện và tích cực. “Bắt mạch” cho quốc dân ta, ông chỉ ra hai trọng bệnh: “ngu dại và hèn yếu”, nên ít nhiều ông đã nghe theo lời khuyên của Lương Khải Siêu, chuyển từ mục tiêu cầu viện sang mục tiêu cầu học. Nhưng theo dõi lịch trình tư tưởng của Phan Bội Châu, có thể khẳng định rằng cho tới sau thất bại của Việt Nam Quang phục Hội (1913), Phan Bội Châu mới thật nguôi hy vọng về một cuộc “thiết huyết” cận kề! Mục tiêu học tập của thanh niên trong phong trào Đông du, về nguyên tắc, là hoặc học “phổ thông” (tức kiến thức chung), hoặc học võ bị. Phan tin tưởng hồn nhiên: “Nếu học đại học thì phải mất tám chín năm, trung học thì cũng năm ba năm. Tốt nghiệp đại học sẽ thành một vị danh tướng vô địch. Tốt nghiệp trung học cũng trở thành một người giúp việc đủ tài.” (Sđd., tr. 38). Không một người nào là thành viên của phong trào Đông du hoàn thành được bậc học mà mình chọn hay được chọn. Không một ai. Bởi nếu xác định rằng những người là du học sinh đúng nghĩa chỉ đến học ở Nhật Bản vào đầu năm 1906, mà chính phủ Nhật Bản chính thức giải tán phong trào này vào mùa thu năm 1908, thì người được học nhiều nhất cũng không được tới 3 năm, trong khi chương trình trung học ở Nhật lúc bấy giờ đối với người thông thạo tiếng Nhật cũng phải mất từ 4-5 năm. Sự thẳng tay của chính phủ Nhật Bản đối với phong trào Đông du trở thành một cú sốc lớn trong toàn thể số du học sinh, cũng gây nên dư chấn nặng nề đối với phong trào trong nước. 2. Đông du, hậu quả và hệ quả 2.1. Thế là chỉ trong một khoảng thời gian không tới 5 năm (1905-1909), trong mắt của những người yêu nước Việt Nam - dù có hay không tham gia vào phong trào Đông du - Nhật Bản từ chỗ là niềm hy vọng to lớn biến đổi nhanh thành niềm tuyệt vọng khổng lồ. Kể từ sau năm 1909, không có một tổ chức, một chính đảng cách mạng đích thực nào của Việt Nam còn lấy Nhật Bản làm địa bàn hoạt động hay dù chỉ làm nơi nương náu tạm thời. Chỉ một số ít những phần tử thuộc phong trào Đông du tiếp tục ở lại Nhật Bản, trở thành “người đời”, tuy có thể một vài kẻ trong họ về sau trở thành cầu nối cho việc Nhật Bản xâm lược Đông Dương, tạo “nền” cho việc xuất hiện đảng Đại Việt thân Nhật vào những năm 40, nhưng nhìn chung không có những hoạt động mang tính phong trào xã hội nào nổi bật của người Việt Nam trên đất Nhật Bản từ đó cho đến tận khi Việt Nam thống nhất (1975). 2.2. Dĩ nhiên, về cơ bản, có thể đồng tình với đánh giá của các nhà sử học, rằng phong trào Đông du nói riêng, “Duy tân hội”(?) trong suốt thời kỳ 1904 đến 1911 nói chung đã có những đóng góp lớn lao, mà lớn lao nhất là đã “phát động mạnh mẽ phong trào yêu nước rầm rộ trong toàn quốc, tập hợp được một lực lượng kháng Pháp khá hùng hậu, chuẩn bị đầy đủ về mặt tinh thần cho các cuộc đấu tranh sắp tới” (Đinh Xuân Lâm, Đại cương Lịch sử Việt Nam - toàn tập NXB Giáo dục, H., tái bản lần thứ 5, 2002, tr. 613). Nhưng dù sao, cũng không thể né tránh không nói đến những tổn thất, những thất bại và hệ lụy của phong trào này, chủ yếu do lối suy nghĩ và tầm nhìn mang tính chiến lược và tính thời đại còn nhiều hạn chế của các lãnh tụ phong trào. Bản thân Phan Bội Châu về sau rất nhiều lần trong đời đã tự dằn vặt mình một cách thống thiết, chưa cần tới sự phê phán không khoan nhượng của những nhà cách mạng khác, trong đó phải nhắc tới “người phản biện, cũng là người đồng chí vĩ đại” đương thời của ông là Phan Châu Trinh. Đường lối bạo động cách mạng mà Phan Bội Châu là người thể hiện nổi bật, sôi sục và kiên trì nhất vào hai thập niên đầu của thế kỷ XX, dẫu có kinh qua nhiều sóng gió thử thách, dẫu được lịch sử dân tộc ở những thập kỷ sau nối tiếp bằng những trang vàng, thì vẫn cần khẳng định rằng chủ trương bạo động cấp khích liền ngay sau phong trào Cần Vương là điều không thể được đánh giá là sáng suốt. Không thể tiến hành đấu tranh vũ trang khi chưa có thời cơ lịch sử, và để có được những thời cơ lịch sử như vậy, cần có nhiều biện pháp, nhiều chủ trương và cách thức hoat động cách mạng theo nhiều quỹ đạo khác nữa. Bạo lực cách mạng chỉ có thể là “khâu dứt điểm cuối cùng” của cả một tiến trình đấu tranh cách mạng lâu dài, trong đó những biện pháp, chủ trương, cách thức không hoặc chưa thể mang tính bạo lực phải trở thành tiền đề không thể thiếu được cho những chủ trương, biện pháp, cách thức mang tính bạo lực ở (những) thời điểm thích hợp. Không chỉ Phan Bội Châu, mà rất nhiều nhà cách mạng, nhà ái quốc lớn khác vào thời kỳ này đều bộc lộ chung một hạn chế: bị ý chí, nghị lực, khí phách và nhiệt tình chi phối khiến lý trí lôgic phần nào bị lu mờ, nói khác đi, trái tim lớn và bầu máu nóng đã gây cản trở cho việc giữ “cái đầu lạnh”. 2.3. Nhìn nhận lại phong trào Đông du cũng là dịp để rút ra những bài học lịch sử về lý luận và kinh nghiệm xác lập, duy trì và phát triển quan hệ giữa các quốc gia - dân tộc. Đứng trước nhiệm vụ này, việc nhận thức chính xác, sâu sắc và toàn diện về đối tác là một yêu cầu bắt buộc, bởi điều đó tiên định những thành công hay thất bại của những quan hệ sẽ diễn ra tiếp tục trong tương lai. Không thể chối bỏ một sự thật là chính qua phong trào Đông du mà người Việt Nam lần đầu tiên đã biết tới và có được nhiều người bạn lớn từ phía Nhật Bản. Tiếc rằng, ở thời điểm lúc bấy giờ, điều tốt đẹp trong quan hệ giữa hai dân tộc cũng chỉ mới dừng lại trong khuôn khổ đó, khuôn khổ của hành vi “ngoại giao nhân dân phi chính phủ”. Chưa thể nói rằng qua phong trào đó mà các quan hệ mang tính liên quốc gia giữa Việt Nam và Nhật Bản đã được xác lập hay dù chỉ là “đặt những viên gạch đầu tiên” cho việc xây móng đắp nền. Lẫn lộn quy mô và tính chất của những loại hình quan hệ khác nhau về bản chất này là điều không được phép. Đó cũng là bài học thấm đẫm tính thời sự ngày hôm nay. Hà Nội, tháng Mạnh Đông năm Ất Dậu, kỷ niệm trọn vòng hoa giáp nạn đói lịch sử. PGS, TS. Trần Ngọc Vương, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội © 2005 talawas

Phương pháp luận mới nghiên cứu tiền sử dân tộc Việt

Hà Văn Thùy
Phương pháp luận mới nghiên cứu tiền sử dân tộc Việt

Cho đến cuối thế kỷ trước, để tìm hiểu tiền sử dân tộc Việt, các nhà nghiên cứu căn cứ vào hai nguồn tư liệu là thư tịch cổ Trung Hoa cùng những phát hiện khảo cổ học, nhân chủng học, ngôn ngữ và xã hội học. Từ những nghiên cứu đó, bức tranh tiền sử của người Việt được trình bày như sau:
Người tiền sử gồm nhiều chủng tộc, trong đó có người Việt, từ Trung Đông tới cao nguyên Tây Tạng. Từ phía nam cao nguyên Tây Tạng, người Việt theo ngọn sông Dương Tử đi xuống phía đông nam chiếm lĩnh đồng bằng Hoa Nam rồi ngược theo bờ biển lên khai phá vùng duyên hải. Một bộ phận từ ngọn nguồn Dương Tử lên phía bắc khai thác vùng nam sông Hoàng Hà.
Người Hán cũng từ nam cao nguyên Tây Tạng di chuyển về phía đông nhưng do phương thức sống du mục nên dừng lại ở vùng đồng cỏ Thiểm Tây, Cam Túc.
Người Hán vượt Hoàng Hà chiếm đất, xua đuổi người Việt xuống phía nam sông Dương Tử.
Do người Hán lấn chiếm tiếp, người Việt đã từ nam sông Dương Tử tràn xuống Việt Nam, tiêu diệt và đồng hóa người bản địa lập nên nước Văn Lang.Sơ đồ như trên trở thành quan điểm chính thức của các nhà sử học khu vực và cũng được ghi trong những cuốn sách sử của nhiều trường đại học danh tiếng thế giới. Tuy nhiên, quan niệm trên vấp phải những thách thức to lớn khi người ta phát hiện rằng, nhiều di chỉ khảo cổ ở Đông Nam Á có tuổi sớm hơn vùng Tây Bắc Trung Hoa cùng những chứng cứ cho thấy, nền văn hóa Đông Nam Á phát triển sớm hơn vùng Hoa lục. Cho đến cuối thế kỷ XX, nhờ những công trình của Y Chu, Bing Su và đồng nghiệp dùng công nghệ genes khảo sát sự đa dạng di truyền của người Hán
[1] , bức tranh tiền sử người Việt và Đông Á nói chung được vẽ lại. Đường nét chính của bức tranh như sau:
Người Homo Sapiens từ Trung Đông băng qua Ấn Độ và Pakistan rồi theo bờ biển phía nam châu Á tới miền Trung và Bắc Việt Nam khoảng 60-70.000 năm trước.
Dừng lại đây khoảng 10.000 năm, hai đại chủng Mongoloid và Australoid hòa huyết tạo thành những chủng Indonesien, Melanesien cùng những chủng lai giữa chúng đồng thời lan tỏa ra sống khắp lục địa Đông Nam Á.
Khoảng 50.000 năm trước, người từ Đông Nam Á đi tới Úc; 40.000 năm trước đặt chân tới New Guinea.
Khoảng 40.000 năm trước, người từ Đông Nam Á lên khai phá lục địa Trung Hoa và từ đây lên tới Siberia rồi vượt qua eo Bering sang chiếm lĩnh châu Mỹ.
Cũng từ Đông Nam Á, một nhóm Mongoloid sống biệt lập, đã độc hành lên phía Tây Bắc Trung Hoa, tạo nên chủng Mongoloid phương Bắc.
Tại Hòa Bình, người Đông Nam Á chế tác đồ đá và sáng tạo trung tâm nông nghiệp phát triển sớm nhất trên thế giới.
Khoảng đầu thiên niên kỷ thứ III TCN, người Hán vượt Hoàng Hà lấn chiếm đất của người Bách Việt. Do sự tiếp xúc giữa người Hán Mongoloid phương Bắc với người Bách Việt, một chủng mới xuất hiện: chủng Mongoloid phương Nam, thuộc nhóm loại hình Đông Nam Á.
Cũng thời gian trên, do thua trận, một nhóm người Việt từ châu thổ Hoàng Hà đi thuyền vượt biển trở lại Việt Nam, cùng với người Việt tại chỗ lập ra nhà nước Văn Lang.
Vào giữa thiên niên kỷ II TCN, do người Hán đánh đuổi gấp, một bộ phận lớn người Bách Việt chủng Mongoloid phương Nam từ phía nam sông Dương Tử trở lại lục địa cũng như hải đảo Đông Nam Á. Những người trở về mái nhà xưa này đã làm chuyển hóa đại bộ phận cư dân Đông Nam Á cổ sang loại hình Đông Nam Á hiện đại. Cũng thời gian này, người Bách Việt từ Hoa lục tràn ra ngoài biển, tới Nhật Bản và Triều Tiên.Với bức tranh được vẽ như trên, ta thấy tiền sử của người Việt đã diễn ra trái ngược với quan niệm từ trước. Không phải là người tiền sử Đông Nam Á từ Tây Bắc nước Tàu đi xuống mà ngược lại, chính người tiền sử đã từ Đông Nam Á, từ Việt Nam đi lên khai phá đất nước Trung Hoa. Hành trình cùa người Bách Việt Đông Nam Á gồm hai giai đoạn: giai đoạn đầu đi lên phương bắc còn giai đoạn sau từ Trung Hoa trở về. Khi phát hiện lịch trình trên của người Đông Nam Á tiền sử, khoa học có thể lý giải thỏa đáng những câu hỏi trước đây về nhân chủng cũng như lịch sử văn hóa vùng Đông Á. Vấn đề cần đặt ra ở đây là vì sao suốt thế kỷ XX khoa học đã lạc đường khi nghiên cứu tiền sử Đông Á? Có thể lý giải điều này như sau: Khiếp nhược trước một đất nước có số dân đông đúc cùng nền văn hóa lớn, các nhà khoa học phương Tây nhiễm quan niệm dĩ Hoa vi trung mặc nhiên coi Trung Quốc là trung tâm phát sinh của Đông Á. Từ mặc cảm định trước này, ngay từ năm 1904, E. Aymonier đưa ra thuyết người tiền sử thiên cư từ cao nguyên Tây Tạng xuống. Tiếp đó, các tác giả khác, khi giải mã những hiện vật khảo cổ và nhân chủng học, ngôn ngữ, xã hội học cùng thư tịch cổ Trung Hoa… đều nương theo thuyết Trung Quốc là trung tâm. Tất cả những việc làm mang tính duy ý chí đó đã vẽ nên bức tranh sai lầm về tiền sử Á Đông. Từ những sai lầm của quá khứ, thiết tưởng việc nghiên cứu tiền sử Đông Á nói chung cũng như người Việt nói riêng hiện nay cần có một phương pháp luận mới. Theo thiển ý, những cơ sở của phương pháp luận đó là:
Lần theo hành trình của người tiền sử từ Đông Nam Á lan tỏa ra khắp Hoa lục sau đó một bộ phận lại trở về Đông Nam Á. Bằng công nghệ genes cùng những vật chứng khảo cổ, nhân chủng học, ngôn ngữ, xã hội học… xác định thời gian, không gian xuất hiện và chuyển dịch của người Việt trên đất Trung Hoa.
Giải mã lại những vật chứng khảo cổ, nhân chủng học, những tư liệu ngôn ngữ học, xã hội học đã phát hiện được theo hành trình của người Đông Nam Á. Từ đây xác định những dấu ấn văn hóa mà người Đông Nam Á để lại trên đất Trung Hoa.
Trước đây, do chưa xác định được thời gian cũng như con đường thiên di của người tiền sử Đông Nam Á, với người Việt, thư tịch cổ Trung Hoa là nguồn cứ liệu duy nhất để chúng ta nhìn vào tiền sử của mình. Nay ta biết rằng, do Khổng tử đã bỏ đi toàn bộ Tam Phần và một phần Ngũ Điển trong kinh Thư nên về thời gian, thư tịch Trung Hoa không thể đáp ứng thông tin trước thời Đường Ngu, tức khoảng trước 2600 năm TCN. Về không gian, lúc đó nước Trung Hoa còn nhỏ bé quanh lưu vực Hoàng Hà nên sự hiểu biết của sử gia Trung Hoa bị hạn chế. Sau này sử gia Trung Hoa, kể từ Tư Mã Thiên, phần nhiều mang con mắt đại Hán tộc nên viết không chính xác lịch sử những nước xung quanh được gọi là man, di… Vì vậy, trên thực tế, nguồn thư tịch Trung Hoa vừa khiếm khuyết vừa không đáng tin cậy, không thể là khuôn vàng thước ngọc cho chúng ta lấy làm căn cứ để viết lịch sử của mình.
Ngày nay, nhờ có người Việt “thiên di” tới nhiều nơi trên thế giới nên đã thu thập được khá nhiều tư liệu của các nước phương Tây viết về đất nước chúng ta. Một số trong đó đã được đưa lên mạng giúp cho chúng ta có cái nhìn về mình mới mẻ hơn và thoát được sự “cầm tù” của thư tịch Tàu.
Hai ngàn năm nay, do không hiểu nguồn gốc sinh học của mình và do mối quan hệ lịch sử đặc biệt với láng giềng phương bắc, ông bà chúng ta coi Trung Quốc là nước đồng văn đồng chủng, còn các nước Đông Nam Á là di, rợ. Nhờ thành quả mới của khoa học di truyền, ta biết rằng, các dân tộc Đông Nam Á cùng cội nguồn với chúng ta. Điều này đưa tới phát hiện quan trọng: chính các sắc dân Đông Nam Á là người lưu giữ sâu đậm văn hóa cội nguồn của tổ tiên chúng ta. Vì vậy, trong hành trình tìm lại văn hóa gốc của người Việt, việc nghiên cứu văn hóa các sắc dân Đông Nam Á có ý nghĩa rất lớn.Tìm hiểu, nghiên cứu làm sáng tỏ giai đoạn tiền sử của dân tộc là chuyện dài dài, là cuộc chạy tiếp sức của nhiều thế hệ. Chúng tôi cho rằng, sau khi đã tìm được nguồn cội về mặt sinh học, công việc trung tâm lúc này là tìm lại cội nguồn văn hóa của người Việt. Áp dụng phương pháp luận trên, chúng ta sẽ tìm ra những dấu tích văn hóa mà tổ tiên ta đã để lại trên đất Trung Hoa, đặc biệt là hai trung tâm Thái Sơn và Lĩnh Nam, từ hạt lúa, ngọn rau, rìu đá, rìu đồng đến tiếng nói, chữ viết, Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Dịch… Tìm lại văn hóa cội nguồn không chỉ đem lại cho chúng ta sự hiểu biết về tổ tiên, mà quan thiết hơn là học từ đó những điều khôn ngoan để phục hưng văn hóa Việt. Sài Gòn, ngày Trùng Cửu năm Ất Dậu © 2005 talawas
[1]J. Y. Chu và đồng nghiệp: “Genetic Relationship of Population in China”. Proc. Natl. Acad. Sci. USA, 1998, số 95, tr. 11763-11768

Những bài học lịch sử về sự đoàn kết và chia rẽ

Hồ Bạch Thảo
Những bài học lịch sử về sự đoàn kết và chia rẽ

Khó mà tin được rằng có một thời nước Chiêm-Thành định sang cai trị nước ta! Nhưng việc này đã thực sự xảy ra vào thế kỷ thứ 5. Bấy giờ nước ta bị người Tàu đô hộ, riêng Chiêm-Thành lúc này còn mang tên cũ là Lâm-Ấp. Vua Lâm-Ấp, Phạm Dương Mại, mấy lần mang quân cướp phá Cửu-Chân [Thanh-Hóa]; Thứ-sử Giao Châu đánh không nổi, phải rút lui. Sau đó vua nước này sai sứ sang Tàu xin cai trị đất Giao-Châu [lãnh thổ nước ta thời đó], vua nhà Tống xuống chiếu trả lời vì đường xa nên không cho.

Bàn về sự kiện này, Sử-thần Lê Văn Hưu phẫn nộ phê trong Đại-Việt sử ký như sau:

“... Lâm-Ấp thừa lúc nước ta chưa có vua, bèn cướp phá Nhật-Nam, Cửu-Chân; lại xin lãnh cai trị nước ta. Có phải lúc đó ta không đủ sức chống nổi Lâm-Ấp đâu? Chỉ vì không có vua để thống suất mà thôi. Thời có lúc vận bĩ, vận thái; thế có lúc co, lúc duỗi. Việc Lý Thái Tông chém đầu vua Chiêm Sạ Đẩu, Lý Thánh Tông bắt sống Chế Củ và cầm tù 5 vạn tên giặc đến nay con cháu họ vẫn còn làm nô lệ, đủ rửa những sỉ nhục trước kia vậy.” [1]

Trang sử về một thời tranh chấp với Chiêm-Thành đã được lật qua. Điều muốn lưu ý tại đây, là lời phê của Sử-thần Lê Văn Hưu, tuy cay đắng nhưng phản ảnh đúng sự thực. Một ngàn năm dưới ách đô hộ là thời gian dài ta không có vua. “Không có vua,” theo ngôn ngữ ngày nay có nghĩa là thiếu đoàn kết, không suy tôn được một lãnh tụ. Vì không lãnh tụ, không có sự lãnh đạo chung, nên không tập hợp được mọi tiềm năng của đất nước để có thể chống cự ngoại xâm phương Bắc, cùng ra uy để khỏi bị nước Chiêm-Thành nhỏ bé hà hiếp tại phương Nam.

Nói chung, việc này thường xảy ra trong thời đại suy vi, lòng người không có chỗ nương dựa. Tình trạng đó đưa đến người cùng một nước trở nên chia rẽ, không hòa hợp được với nhau, đả kích miệt thị lẫn nhau, ai không cùng chí hướng thì coi như là thù nghịch. Lại vì không thành tâm hợp tác, nên rã rời như đống cát vụn; cũng như có người nhận xét về người mình buổi mạt vận như sau: “Một người Việt thì không thua ai, nhưng hai người Việt gộp lại thì chẳng bằng ai cả”. Có lập luận phản bác, cho rằng chẳng may ta sinh vào thời suy đồi, nên không có lãnh tụ giỏi xuất hiện đấy thôi! Thực ra lãnh tụ vốn ở trong dân mà ra, người xưa nói rằng trong đám người mù không thể tìm ra kẻ sáng mắt như Ly Lâu [2] , trong đám điếc không thể tìm được một nhạc sư có tài biện biệt âm thanh cỡ Sư Khoáng [3] ; vậy trong lớp người có trình độ dân trí thấp, lại không biết đoàn kết với nhau, làm sao kiếm ra được một lãnh tụ tài ba?

Nói đến thù nghịch “khác tình, khác cảnh, cách mặt, cách lòng” [4] ; trong hoàn cảnh chẳng đặng đừng, những người mang nặng cốt cách Nho phong vẫn tìm được cách cư xử đẹp. Trường hợp Hoàng Cao Khải và Đình-Nguyên Phan Đình Phùng là mẫu điển hình. Hai người cùng quê (làng Đông-Thái, phủ Đức-Thọ, tỉnh Hà-tĩnh), đứng trong hai trận tuyến đối nghịch; một người giữ chức Quận-công thời Pháp thuộc, một người là lãnh tụ phe Cần Vương. Trong thư từ trao đổi, câu mở đầu Hoàng Cao Khải kính cẩn xưng học vị Đình-nguyên của người bạn cùng làng: “Đồng ấp Phan Đình-nguyên đại nhân Túc-hạ”; Phan Đình Phùng cũng có lời phúc đáp không kém nhã nhặn: “Hoàng quí nhân Đài-Các-hạ”. Cho dù không khoan nhượng trong cuộc tranh luận, nhưng họ vẫn trìu mến nhắc nhở đến tình cảm xưa: “Kẻ hèn này cùng Túc-hạ cách biệt hơn chục năm trời, thế sự tang thương, đường đời nam bắc, xu hướng mỗi người một khác, nhưng trong giấc mộng vẫn thường gặp gỡ nhau; hồi ức ngày trước giao du với nhau, mối tình thắm thiết biết là dường nào! (Bộc dữ Túc-hạ biệt thập dư niên hỹ, thế sự tang thương, trần đồ nam bắc, xu hướng các dị, mộng hồn song giao, hồi ức cựu du, tình hà như dã…). Cả hai không gọi nhau bằng thằng nọ, con kia; cũng không miệt thị nhau là ngụy, là giặc! Dù hai người không được gặp lại nhau; nhưng con cháu họ nếu có dịp hội ngộ, còn có thể nhận là người làng, người nước; không đến nỗi tuyệt tình.

Bàn về sự đoàn kết, có thể nói thời đại nhà Trần là một hình mô hình tiêu biểu. Nhà Lý nhường ngôi chưa được bao lâu [1237], nội bộ nhà Trần có cuộc khủng hoảng lớn, tưởng chừng có thể làm lung lay cả triều đại. Bấy giờ Chiêu Thánh Hoàng-hậu [tức Lý Chiêu Hoàng], chánh cung của vua Trần Thái Tông, không có con. Thái-sư Trần Thủ Độ bèn rắp mưu đem công-chúa Thuận Thiên họ Lý (vợ của An-Sinh-vương Liễu, anh ruột nhà vua), lúc bấy giờ đang có thai ba tháng, làm vợ vua Trần Thái Tông, để mong có con nối dõi. Việc làm loạn luân này, khiến Liễu tức giận họp quân trên sông cái nổi loạn. Đến hai tuần sau, Liễu tự lượng thế cô khó lòng chống được, ngầm đi thuyền độc mộc, giả làm người đánh cá đến chỗ vua xin hàng.

Lúc ấy vua đang ở trong thuyền, anh em nhìn nhau khóc. Trần Thủ Độ nghe tin, đến thẳng thuyền vua, rút gươm thét lớn:

Giết thằng giặc Liễu.

Vua giấu Liễu trong thuyền, vội vàng bảo Thủ Độ:

Phụng Càn Vương (tước hiệu cũ của Liễu thời triều Lý) đến hàng đấy.

Rồi lấy thân mình che cho Liễu. Thủ Độ tức lắm, ném gươm xuống sông nói:
Ta chỉ là con chó săn thôi, biết đâu anh em các ngươi thuận nghịch thế nào?
Vua nói giải hòa, rồi bảo Thủ Độ rút quân về. [5]

Theo luân lý xưa, đạo phu phụ rất quan trọng, việc thay vợ đổi chồng thường là nguyên nhân gây nên mối thù truyền kiếp. Rất may, vua Trần Thái Tông cương quyết bảo vệ tình nghĩa anh em, lấy sự đoàn kết làm trọng, giúp cơ nghiệp nhà Trần bước đầu xây nền móng vững chắc.

Lịch sử Trung-Quốc đời Đường có vị vua nổi tiếng tên là Lý Thế Dân, cùng chung miếu hiệu “Thái Tông” với vua ta. Vì tranh ngôi, ông này đã đem quân mai phục ở cửa Huyền Vũ, giết cả anh em ruột là Kiến Thành và Nguyên Cát. Liên hệ việc này, với niềm tự hào dân tộc, vua Trần Dụ Tông làm bài thơ so sánh công nghiệp và đạo đức vua ta với vua nhà Đường như sau:

Đường Việt khai cơ lưỡng Thái Tông,
Bỉ xưng Trinh Quán ngã Nguyên Phong.
Kiến Thành tru tử An Sinh tại,
Miếu hiệu tuy đồng đức bất đồng.

(Vua sáng nghiệp nhà Đường bên Tàu và nhà Trần Việt-Nam đều có chung miếu hiệu là Thái Tông,
Về niên hiệu vua Tàu xưng là Trinh Quán, vua ta là Nguyên Phong.
Kiến Thành anh vua Tàu bị giết, riêng An-Sinh-vương anh vua ta được tha.
Chứng tỏ hai bên tuy đồng miếu hiệu, nhưng về đạo đức thì hoàn toàn không giống nhau.)

Đoàn kết không phải chỉ là câu nói ngoài cửa miệng để tuyên truyền, cần có lòng thành, bụng dạ phải rộng lượng, không cố chấp thành kiến. Việc cử Hưng-Đạo-vương Trần Quốc Tuấn, con An Sinh Vương Liễu, làm tổng Chỉ-huy quân đội là tấm gương can đảm, dám dùng người. Hưng-Đạo-vương, người lập công đầu trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, cũng là nhân vật triệt để thực hiện tình đoàn kết. Sử chép An-Sinh-vương Liễu vẫn ôm mối thù xưa, lúc sắp mất cầm tay Trần Quốc Tuấn giối giăng rằng:

“Con mà không vì cha lấy thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được.”

Quốc Tuấn ghi điều đó trong lòng, nhưng không cho là phải.

Lại có lần Quốc Tuấn đem chuyện ấy vờ hỏi Hưng Nhượng-vương Quốc Tảng. Quốc Tảng thưa:

Tống Thái Tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ.

Quốc Tuấn rút gươm kể tội:

Tên loạn thần là đứa con bất hiếu mà ra.

Định giết Quốc Tảng. Con trưởng Hưng Vũ Vương hay tin, vội chạy tới khóc lóc xin chịu tội thay, Quốc Tuấn mới tha. Rồi ông dặn Hưng Vũ Vương:

- Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng. [6]

Lúc này vua tôi, quân dân một lòng, nội bộ đoàn kết vững vàng, nên có thể đánh tan mọi âm mưu chia rẽ của kẻ ngoại xâm, cầm đầu bởi vua Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt. Đầu đuôi sự việc qua bối cảnh lịch sử như sau:

Năm Chí nguyên thứ 16 (1279) vua Nguyên Thế Tổ sai Sứ-thần Sài Xuân [có sách chép Sài Thung] đến nước ta lần thứ ba để ép buộc vua Trần Nhân Tông sang chầu, vua lấy cớ bị tật không đi được. Bị cật vấn nhiều lần, cuối cùng nhà vua cho chú là Trần Di Ái đi thay. Cũng vào năm ấy, quân Mông-Cổ đánh úp quân Tống tại Nhai-Sơn, thuộc tỉnh Quảng-Đông, Thừa-tướng Lục Tú Phu phải cõng vua Tống nhảy xuống biển chết. Nhà Tống sụp đổ, thời cuộc lúc này rất thuận tiện để vua Nguyên dấn mạnh vào con đường xâm lược nước ta.

Năm Chí nguyên thứ 18, vua Nguyên gia phong Sài Xuân, tự Trang Khanh, làm An-Nam Tuyên Ủy Đô Nguyên-soái, Lý Chấn Phó-soái, mang khoảng 1000 quân đem Trần Di Ái về nước. Chuyến đi của Sài Xuân, có mang sẵn chiếu thư của Nguyên Thế Tổ, nội dung như một tối hậu thư buộc vua ta phải chọn lựa một trong hai con đường: hoặc chấp nhận Trần Di Ái, tức xóa bỏ mọi cơ chế hiện hữu để ngoan ngoãn đầu hàng giặc; hoặc đuổi sứ-giả cùng tùy tùng, tức chấp nhận chiến tranh tức khắc với con bài Trần Di Ái làm bù nhìn. Chiếu thư như sau:

Chiếu thư vào năm Chí Nguyên thứ mười tám
(Chí nguyên thập bát niên chiếu)

Trước kia khi An-nam Quốc-vương Trần Nhật Cảnh còn sống, đã từng đem điều lệ của tổ tông ta đối với chư Man ra hiểu dụ, nhưng y không thi hành. Đến lúc mất con không xin mệnh, tự lập lên làm vua. Sai sứ đến triệu, từ chối không chịu sang chầu. Nay lại lấy cớ bị tật không chịu sang, cố tình trái mệnh, chỉ cho chú là Trần Di Ái sang mà thôi. Ta định hưng binh hỏi tội, nhưng nghĩ đến nước ngươi nội phụ triều cống đã lâu rồi, chỉ do một mình ngươi không biết điều, không nỡ để cho dân chúng phải chết uổng. Nay ngươi lấy cớ tật không thể sang chầu, thì hãy lo thuốc thang trị bệnh đi! Ta lập chú ngươi làm An-Nam Quốc-vương để cai trị dân chúng. Quan lại sĩ thứ trong nước hãy an cư lạc nghiệp, đừng lo sợ. Nếu ngươi và dân chúng có mưu mô nào khác, đại binh vào sẽ sát hại tính mạng lúc đó đừng oán, vì tội các ngươi gây ra. Nay dụ các tông tộc quan lại nước An-Nam. [7]

Triều đình nhà Nguyên đánh giá chuyến đi này rất quan trọng và chắc chắn thành công, nên lúc lâm hành sai các quan trong viện Hàn lâm làm thơ văn tống tiễn. Viên Hàn lâm Học-sĩ Lý Khiêm, tự là Thụ Ích, làm bài tự như sau:

Hàn lâm học-sĩ Lý Khiêm, tự Thụ Ích, tống thượng-thư Sài Trang Khanh tự

Năm Chí Nguyên thứ 15 (1278) Quốc-vương nước An-Nam dâng biểu lấy cớ biên cảnh bị quấy phá nên không rảnh để tự sang chầu; Tiên-vương mất, không thỉnh mệnh mà tự lập. Triều đình sai Sứ đi hỏi tội, nhưng chưa tìm được người xứng chức. Nhân An-Phủ-sứ đất Kim-Xỉ là Sài Trang Khanh từ Vân-Nam tới, được các quan Đại-thần tiến cử là người có tài, Thiên-tử bèn cho vời đến. Cha anh Sài công đều là cựu thần, lời lẽ ông ta rất khẳng khái, lại quen phong thổ phương Nam, nên được Thiên-tử ban cho chức Lễ bộ Thượng-thư; lại ban cho bạc, cung tên, yên ngựa để tỏ sự sủng ái lúc lâm hành.

Sài Trang Khanh đến An-Nam tuyên cáo ý của Thiên-tử, chiêu dụ hai ba lần, nhưng Vương nước này vẫn cố chấp chưa tỉnh ngộ, không chịu sang chầu. Trang Khanh về tâu, Thiên-tử không nỡ dùng binh, lại bảo đi thêm lần nữa. Ba năm, ba lần lặn lội đi về; rồi năm đó An-Nam cho Trần Di Ái, là em ruột Quốc-vương, chú của Thế-tử [vua Trần Nhân Tông] sang chầu. Thiên-tử phán: “Thế-tử chống, còn dân có tội tình gì! Hãy cho Di Ái lên thay để cai trị dân.” Bèn trao sách mệnh, ban cho Trang Khanh làm Tuyên- ủy-sứ Đô Nguyên-soái, mang quân hộ tống Di Ái về nước. Lúc sắp khởi hành, các quan trong viện Hàn lâm đều làm thơ tống tiễn. Kẻ hèn này lạm dự chức Hàn lâm, phàm các biểu chương chiếu dụ đều được nghe qua, bèn đem sự việc kể ra làm lời tống tặng. Từ xưa đến nay không những khó có được người tài, mà biết tìm ra người tài cũng không dễ! Nay Chúa thượng biết Trang Khanh là tay cương nghị hùng biện, có thể gánh trọng trách chốn xa xôi, đi sứ bốn phương không nhục mệnh vua, nên gửi ra ngài cửa khổn [8] , giao việc nơi tuyệt vực [9] , phàm việc quân sự đều được toàn quyền chuyên chế. Lại được quí ông Lý Văn Chấn giữ chức phó, Lý Phi Nhị làm Tham-mưu, sự chọn lựa nhân tài thực kỹ lưỡng. Chuyến đi của Trang Khanh sẽ không phụ công tuyển chọn của Thiên-tử, không thẹn với lời khen lao kỳ vọng của quí quan, thu phục An-Nam là do chuyến đi này! Tôi mấy ngày đợi Sài công tại cửa kinh đô để chúc mừng rằng: “Từ nay trong lịch sử không phải chỉ riêng các Sứ-thần Chung Quân [10] , Lục Giả được tiếng khen mà thôi! Tháng 11 năm Chí Nguyên thứ 18. [11]

Sự việc xảy ra trái với lời tiên đoán của Hàn-lâm Lý Khiêm. Sau chuyến đi này, tên tuổi Sài Xuân bị chôn vùi hoàn toàn, không còn được nhắc thêm trong lịch sử Trung-Quốc. Lực lượng đặc mệnh của Sài Xuân đến trại Vĩnh-Bình tại biên giới (chỗ tiếp giáp tỉnh Quảng-Tây, Trung-Quốc và tỉnh Lạng-Sơn nước ta), dù đã cho người đi trước thông báo, vẫn không được tiếp đón như thường lệ. Sài Xuân cảm thấy lo sợ, nên viết thư cho triều đình ta, để mong giảm sự bớt căng thẳng, có thể đe dọa đến tính mạng y lúc này:

“Bản ty nhận Thánh chỉ đến nước ngươi với nhiệm vụ phủ dụ biên cảnh, an ủi nhân dân, tình nghĩa như người trong một nhà, không có điều gì khác. Số quân mang theo chỉ là lính phục dịch, không phải để chinh phạt chiến đấu. Sợ nước ngươi không hiểu được ơn Thiên-tử, không rõ tại sao đến nên sinh ra kinh sợ, đưa đến chỗ lo lắng nghi ngờ. Bởi vậy khi đến Tĩnh-Giang [12] sai Lê Trung Tán đi trước hiểu dụ về mỹ ý khoan tuất của triều đình, lại nhắc chuẩn bị ngựa, quân lương, dân phu chiếu lệ nghênh đón tại biên giới.

Ngày 16 tháng 3 bản ty xuống ngưa đợi tại Vĩnh-Bình đến ngày 20 thấy Lê Văn Túy mang thư tới, muốn hoãn để thương nghị. Như vậy là không biết ngày hẹn đến nghênh đón, hoặc trong lòng còn nghi kỵ chưa có được chút lòng thành. Nếu vậy lời kẻ phụng sứ trước kia là giả dối cả hay sao? Nếu cho đó là có lòng thành, thì làm sao xảy ra việc ngày hôm nay! Đến như việc có ích hoặc vô ích cho Thế-tử và trăm họ thì sau khi ban chiếu chỉ sẽ rõ. Lúc này ngoài việc ước thúc quân lính không quấy nhiễu dân chúng, còn sai viên Kinh-lịch cùng Lệnh-sử Vương Lương cưỡi ngựa đi trước kiểm soát số ngựa, quân lương, dân phu, hẹn trong 6 ngày phải có đầy đủ tại Vĩnh-Bình; nếu còn trái hẹn nữa thì sẽ quay xe trở về để Thiên triều có cách đối xử khác. Riêng nghĩ rằng quí quốc đã qui phụ hơn mười năm nay rồi, nay chống đối lại, điều hại sẽ đến theo, chẳng lẽ không xét tới sao?” [13]

Căn cứ vào nội dung lá thư thì đoàn quân hộ tống Trần Di Ái về nước phải đợi tại Vĩnh-Bình 4 ngày, rồi lại thấy bên ta mang thư tới xin hoãn để thương nghị. Cũng tại nơi này Trần Di Ái biến mất. Theo lời vua Trần Nhân Tông kể cho viên Sứ-thần Thượng-thư Trương Lập Đạo [14] thì vua Nguyên kết tội bên ta giết Trần Di Ái, vua ta phủ nhận và bảo rằng: “Quốc-thúc do cha cô [15] sai sang chầu Thiên-tử, Thiên-tử phong Quốc-thúc tước vương, Quốc-thúc sợ hãi không biết đi đâu, chớ không phải do nước cô giết”. Riêng Đại Việt sử ký toàn thư chép vào tháng 6 năm Nhâm Ngọ (1282) trị tội Trần Ải tức Trần Di Ái làm khao giáp binh Thiên-Trường. An-Nam chí lược của Lê Trắc chép “Đưa Di Ái tới Vĩnh Bình, người An-Nam không tiếp nhận. Di Ái sợ, chạy trốn về… Thế-tử truất Di Ái làm thường dân”. Cần nhấn mạnh thêm lúc sự kiện này xảy ra, Lê Trắc còn ở trong nước nên biết rõ nội vụ, xác nhận Di Ái còn sống; trong khi đó, Nguyên sử chép là Di Ái bị giết chết.

Qua những sử liệu nêu trên, đủ để suy luận một cách có hệ thống rằng thời gian bắt đoàn quân hộ tống chờ đơi tại Vĩnh-Bình là thời gian quan trọng, ta cố tình trì hoãn để lập mưu. Bằng thủ đoạn khéo léo cho người móc nối trực tiếp, hoặc gián tiếp qua các viên hầu cận, ta đã kéo được Trần Di Ái ra khỏi bàn tay Sài Xuân. Công việc này thành công cũng là nhờ Trần Di Ái thừa hưởng tinh thần đoàn kết của vua cha Trần Thái Tông, nên sẵn sàng hợp tác. Rốt cuộc Di Ái làm khao giáp binh Thiên-Trường, được bảo vệ, nên không còn bị giặc lợi dụng thêm nữa. Tất cả kế hoạch chia rẽ của Nguyên Thế-tổ, rầm rộ cho viện Hàn lâm ca tụng tại triều đình, đã bị thất bại từ trong trứng nước.

Nhà Trần làm hết sức mình để trì hoãn chiến tranh, nhưng đế quốc Nguyên Mông vẫn không từ bỏ tham vọng xâm lăng. Tháng 12 năm Giáp thân [1284] vua Nguyên sai bọn Thoát Hoan mang đại quân sang đánh. Quân dân ta biểu dương tinh thần đoàn kết quyết chiến, qua các hội nghị lịch sử Diên-Hồng và Bình-Than; để rồi lâm trận, hai lần anh dũng đánh tan quân giặc. Qua trang sử có giá trị như là một hồi ký, Lê Trắc, tác giả An-Nam chí lược, người theo giặc, bản thân trực tiếp tham dự cuộc chiến này, chép một cách sống động việc đoàn quân Thoát Hoan bị đánh khắp nơi lúc chuẩn bị rút lui trong cuộc xâm lăng lần thứ hai [1288]:

Ngày mồng 2 tháng 2, Thế-tử (vua Trần Nhân Tông) cho anh là Hưng Ninh-vương Trần Tung mấy lần đến xin giảng hòa, đêm lại cho quân cảm tử đến cướp trại. Vương (Thoát Hoan) sai Vạn-Hộ-hầu Giải Chấn đến đốt thành, các quan tả hữu ngăn lại. Thần nỗ Tổng-quản Giả Nhược Ngu thưa:

Quân chỉ có thể rút lui, không thể giữ được.

Vương nói:

Đất nóng, khí ẩm thấp, lương thực cạn, quân sĩ mệt mỏi.

Rồi ra lệnh rút lui. Viên tướng hiệu về đường thủy thưa rằng:

Chiến hạm chở lương hai lần đều bị đánh tan, chi bằng phá thuyền đi đường bộ là thượng sách.

Vương sắp nghe lời, nhưng bị tả hữu cản lại.

Ngày mồng 3 tháng 3 các viên Hữu-thừa Trịnh Bằng Phi, Thiêm-tỉnh Đạt Mộc dùng kỵ binh yểm hộ đoàn thuyền đến chợ Đông-Hồ, bị ngăn bằng chướng ngại vật nên phải quay trở lại. Cầu cống lại bị phá sập, địch đợi quân ta đến đánh. Hữu-thừa Trịnh Bằng Phi bắt một lão già chỉ đường, đang đêm rút lui hướng khác. Đại quân đến ải Nội-Bàng, địch lại đánh tâp hậu... [16]

Đoạn sử trích dẫn ở trên như đoạn phim quay trực tiếp về cảnh quân dân ta đoàn kết chiến đấu trên mọi mặt trận. Rồi khi hòa bình lập lại, điều đặc biệt đáng chép thêm về nỗ lực đoàn kết thời nhà Trần là khi bắt được một hòm biểu đựng hồ sơ của những người xin hàng giặc, Thượng-hoàng [vua Trần Thánh Tông] bắt đốt đi, để yên tâm những người phản trắc. [17]

© 2005 talawas


--------------------------------------------------------------------------------
[1]Đại-Việt sử ký toàn thư, bản dịch, Viện Khoa học Xã hội Việt-Nam, Hà-Nội: 1998, tập 1, trang 174.
[2]Ly Lâu: Nhân vật truyền thuyết thời Hoàng Đế, mắt rất sáng; có thể thấy được hạt bụi ngoài trăm bộ.
[3]Sư Khoáng: Nhạc sư thời Chiến Quốc, có tài biện biệt âm thanh để biết điềm lành, điềm dữ.
[4]Câu văn lấy trong thư của Hoàng Cao Khải gửi Đình-nguyên Phan Đình Phùng.
[5]Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, trang 16.
[6]Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, trang 80.
[7]Hồ Bạch Thảo, Những nét đặc trưng về lịch sử Việt Nam, trang 95. Dịch từ An-Nam chí lược của Lê Trắc.
[8]Cửa khổn: Cửa thành, ý chỉ nơi biên thùy.
[9]Tuyệt vực: Nơi xa xôi.
[10]Chung Quân và Lục Giả đều là sứ nhà Hán từng đến nước ta; Lục Giả đi sứ dưới thời Hán Cao Tổ, Hán Văn-đế; Chung Quân thời Hán Vũ-đế. Chung Quân giữ chức Bác-sĩ năm 18 tuổi. Vũ-đế ngạc nhiên về văn tài, thăng đến chức Gián nghị Đại-phu. Lúc ra đi Chung Quân huyênh hoang sẽ mang giây trói Vương nước Việt về, nhưng cuối cùng bị Thừa-tướng Lữ Gia giết năm hai mươi tuổi. Vì y thông minh như thần đồng nên người đời mệnh danh là Chung đồng.
[11]Những nét đặc trưng về lịch sử Việt-Nam, trang 95.
[12]Nhà Nguyên lập Tĩnh-Giang lộ Tổng-quản tại tỉnh Quảng-Tây.
[13]Những nét đặc trưng về lịch sử Việt-Nam, trang 93.
[14]Những nét đặc trưng về lịch sử Việt-Nam, trang363.
[15]Cô: Vua chúa thời xưa thường tự xưng là cô, hay quả nhân.
[16] Những nét đặc trưng về lịch sử Việt-Nam, trang155.
[17]Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, trang 65.

Saturday, May 13, 2006

Trịnh Nhật
Đi tìm phần mềm dịch tiếng Việt

Bài “
Dịch thuật bằng máy: Niềm mơ ước còn hoài” của tôi đăng trên talawas hồi tháng 7. 2005 và trên khoahoc.net hồi tháng 9. 2005 kêu gọi độc giả bốn phương cho biết thông tin liên quan đến một nhóm chuyên gia thực hiện nhu liệu dịch tiếng Việt bằng máy. Khoảng hai tháng sau, nhân một chuyến sang Mĩ, ở Santa Ana tôi có dịp gặp một chị nhà giáo tin học, người đã từng giới thiệu tôi làm quen với máy dịch Systran mấy năm trước đó. Ưu tư của tôi ở thời điểm gặp chị là làm sao thực hiện kho trữ liệu văn bản tiếng Việt (Vietnamese text corpus) để có hàng trăm, hàng ngàn triệu chữ Việt cất giữ trong kho, cho việc nghiên cứu làm từ điển kết hợp từ (collocation dictionary) Anh-Việt/Việt-Anh. Nói khác đi là tôi muốn thực hiện một dự án cho tiếng Việt, tương tự như Dự án Cobuild mà Giáo sư John McH. Sinclair đã làm cho tiếng Anh tại Đại học Birmingham bên Anh Quốc. Cái lợi của kho trữ liệu văn bản là mình khi muốn có trích dẫn làm thí dụ cho từ điển thì, nói có sách mách có chứng, những từ hoặc cụm từ dùng ấy thực sự có xuất hiện bên nhau, chứ không do mình tưởng tượng ra hay dựa vào trí nhớ. Cái lợi khác là cho việc làm từ điển kết hợp từ vì nó giúp mình biết được một từ hay một cụm từ nào thường xuất hiện sau nó hoặc trước nó trong thực tế. Trong lần gặp này, chị đã cho tôi biết không dễ gì và có thể không cần phải thực hiện một dự án to lớn như vậy. Nếu muốn biết từ nào đi trước đi sau từ nào, thì mình chỉ việc vào yahoo.com đánh máy từ đó, nếu là tiếng Việt, dùng loại chữ unicode, thì ta sẽ được vô số những câu có từ đó xuất hiện. Chẳng hạn như muốn biết chữ "kinh nghiệm" thường xuất hiện với những từ gì, cụm từ nào đứng trước hoặc đứng sau nó, thì đánh chữ đó vào ô trống, rồi bấm search thì ta có cả triệu ca trong đó có từ hoặc cụm từ xuất hiện với "kinh nghiệm". Có điều trong triệu ca đó thì có những từ, những cụm từ xuất hiện với cả "kinh" lẫn "nghiệm" nữa. Tôi đã thử và đã nhận diện được một số từ kết hợp với "kinh nghiệm" như: "kinh nghiệm" + [sống; bản thân; ngoài đời; tình trường; cận chết; rời khỏi thân thể; mắt thấy tai nghe; công nghệ thông qua sản phẩm…]. Trong buổi làm việc với Cris A. Fitch, kĩ sư trưởng/quản lí dự án (Senior Engineer/Project Manager) của Systran Software Inc., trụ sở nằm trên đường Genesee Avenue ở San Diego, tôi được anh cho biết vào giữa thập niên 90 chỉ có hai công ty chính là Globalink và Micro Tak chế tạo sản phẩm và cung cấp dịch vụ dịch thuật bằng máy. Hai công ti này sau đó sáp nhập làm một, nhưng chẳng bao lâu sau công ti hợp doanh này bị phá sản. Chuyện dịch tiếng Việt bằng máy cũng đã được Globalink thực hiện nhưng vì không có chất lượng và chắc không đáp ứng được nhu cầu lợi nhuận nên họ không tiếp tục. Anh cũng cho biết thêm là cơ quan Systran không nghĩ đến đem tiếng Việt vào làm một ngôn ngữ dịch máy, nhưng anh đặt giả thuyết là nếu trong vài năm nữa, năm 2008 chẳng hạn, Google hay Systran tài trợ cho dự án dịch tiếng Việt thì công việc cho những ai muốn tham gia dự án là phải bắt đầu chuẩn bị nghiên cứu hai ngôn ngữ Anh Việt (khoan nói tới văn phạm, cú pháp) về những chuyện như sau:
Văn bản song đôi (parallel corpora/twin texts): văn bản có nội dung tương tự.
Vốn từ vựng (lexicon): toàn thể từ vựng có trong từ điển.
Hình thái học/hình vị học (morphology): cấu trúc, cách tạo từ ngữ.
Những từ đồng tự (homographs): chữ viết giống nhau mà khác nghĩa.Anh cũng cho tôi biết mặc dù tiếng Việt có hơn 80 triệu người sử dụng, nhưng cũng còn có những ngôn ngữ khác như Bengali có 200 triệu người sử dụng, hoặc tiếng Nam Dương, tiếng Thái, tiếng Tamil, v.v… là những tiếng có đông người sử dụng mà về mặt dịch máy cũng không được quan tâm mấy. Systran đã không đặt ưu tiên số đông người sử dụng mà để ý nhu cầu thực tiễn thương mại cho sản phẩm phần mềm của họ, nếu có. Trong chuyến về Việt Nam sau đó, tôi được biết báo Thanh Niên trực tuyến, số ra ngày 6-6-2005 có thông tin về phần mềm dịch tự động tiếng Việt. Các chuyên gia vi tính của Phòng Công nghệ Phần mềm Máy tính của Viện Nghiên cứu Ứng dụng Công nghệ, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường đã giới thiệu phác thảo sơ khai về dịch máy năm 1990 và được sự quan tâm của một số cơ quan nghiên cứu và đào tạo. Từ đó sản phẩm phần mềm EVTRAN 1.0 dịch tự động từ tiếng Anh sang tiếng Việt đã được hình thành như một thương phẩm đóng gói lần đầu tiên tại Việt Nam năm 1997 (với từ điển dịch chứa gần 80.000 mục từ). Bản EVTRAN 2.0 được giới thiệu từ năm 2000 và đã thực sự góp phần hỗ trợ những người sử dụng máy vi tính khi làm việc với văn bản tiếng Anh. Và mới đây là bản EVTRAN 3.0 (còn có tên gọi là EV-SHUTTLE) là phần mềm dịch tự động hai chiều Anh-Việt/Việt-Anh. Nỗi vui mừng trước tiên và trên hết của tôi là biết có tiếng Việt cho máy dịch, mặc dù biết hơi trễ, và máy đọc được tiếng Việt và dịch ra được tiếng Anh. Tôi đã tìm cơ hội đến Phòng Công nghệ Phần mềm Máy tính của Viện Nghiên cứu Ứng dụng Công nghệ này ở C6 Thanh Xuân Bắc, Hà Nội, để gặp và nói chuyện với ông Lê Khánh Hùng, cùng với anh Lê Minh Hoàn và 2 người bạn trẻ nữa. Trong một tài liệu đưa tay cho tôi, ông Hùng đã viết về sản phẩm dịch máy như sau: “Trong mọi sản phẩm dịch máy phần trọng tâm là động cơ dịch: thành phần thực thi việc phiên dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Người ta phân ra hai loại kiến trúc chính của động cơ dịch:
Kiến trúc trực tiếp (dựa trên chuyển đổi văn phạm)
Kiến trúc gián tiếp (dựa trên kiến thức ngôn ngữ)Các thương phẩm dịch máy hiện hành hoặc có kiến thức chuyển đổi trực tiếp (như Systran…) hoặc là sự lai ghép giữa kiến thức chuyển đổi với việc áp dụng tri thức về ngôn ngữ (như Globallink, IBM…). Động cơ dịch của phần mềm EVTRAN cũng dựa trên sự lai ghép của hai kiến thức nêu trên. Khung động cơ dịch của EVTRAN có thể mô tả vắn tắt như sau:
Phân tích văn phạm: Từ câu cần dịch xây dựng cây cú pháp nguồn.
Chuyển đổi: Biến đổi cây cú pháp nguồn thành cây cú pháp đích.
Tổng hợp câu: Từ cây cú pháp đích xây dựng câu dịch.Với mỗi câu có thể dựng được nhiều cây cú pháp khác nhau, đó là tính nhập nhằng nội tại của ngôn ngữ nguồn. Việc chọn cây thích hợp được thực hiện trong bước Phân tích Văn phạm. Đối với những nhập nhằng do chuyển ngữ thì có thể thực hiện trong bước chuyển đổi, khi có sẵn thông tin của ngôn ngữ đích. Công cụ hình thức để mô tả cú pháp là Văn phạm Phi ngữ cảnh. Tuy nhiên, mô hình này nhìn chung không thể thể hiện những tình huống ngôn ngữ tinh tế. Những nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Ứng dụng Công nghệ tập trung vào việc mở rộng mô hình văn phạm để mô tả được những Luật hành văn (bao gồm Ngữ vựng, Ngữ pháp, Ngữ nghĩa và Ngữ dụng). Cách tiếp cận là những ứng dụng khác nhau để mô tả những qui luật hành văn khác nhau của ngôn ngữ.” Tôi đã có dịp thử phần mềm EVTRAN 2.0 dịch tự động sang tiếng Việt một đoạn viết bằng tiếng Anh của tôi thì thấy là như sau: Nguyên bản: Life is short: Think BPP “Dalai Lama, the chief lama and until 1959 ruler of Tibet once said: “I believe that the very purpose of our life is to seek happiness. That is clear. Whether one believes in religion or not, whether one believes in this religion or that religion, we all are seeking something better in life. So, I think, the very motion of our life is towards happiness… And happiness can be achieved through training the mind.” The leader of the Tibetan people was not referring to “the mind’ merely as one’s cognitive ability or intellect. Rather, he was using the term in the sense of the Tibetan word Sem, which has a much broader meaning, encompassing intellect and feeling, heart and mind. By bringing about a certain inner discipline, we can undergo a transformation of our attitude, and our approach to living. I have started thinking about how to spend the twilight of my life in a peaceful state of mind. My recent motto happens to be “Think BPP”. Confusing, isn’t it? Let me explain it fully.” Dưới đây là bản dịch bằng máy: Bản máy dịch: Cuộc sống (thì) ngắn: Nghĩ BPP “Hà mã Dalai, Hà mã chính và cho đến khi 1959 thước đo (của) Tibet một lần nói: “Tôi tin tưởng rằng chính mục đích (của) cuộc sống (của) chúng ta sẽ tìm kiếm hạnh phúc. Cái đó (thì) sáng sủa. Dù một tin tưởng vào tôn giáo hay không, dù một tin tưởng vào tôn giáo này hoặc tôn giáo đó, chúng ta hoàn toàn đang tìm kiếm cái gì đó tốt hơn trong cuộc sống. Như vậy, Tôi nghĩ, chính sự chuyển động (của) cuộc sống (của) chúng ta về phía hạnh phúc… Và hạnh phúc có thể được đạt được xuyên qua việc huấn luyện tâm trí.” Người lãnh đạo (của) Người Tây Tạng (mà) những người đang không viện dẫn “Tâm trí’’ Đơn thuần như ability nhận thức hoặc sự hiểu biết (của) ai đó. Khá, (Mà) anh ta đang sử dụng Thời hạn trong cảm giác về từ Tây tạng Sem, Mà có một nhiều sự hiểu biết và cảm giác đầy ý nghĩa, xung quanh rộng hơn, trái tim và tâm trí. Bởi việc dẫn đến một kỷ luật (môn) bên trong nhất định, chúng ta có thể trải qua một sự biến đổi (của) thái độ (của) chúng ta, và (sự) tiếp cận để sống (của) chúng ta. Tôi đã bắt đầu nghĩ quanh làm sao để tiêu thụ lúc hoàng hôn (của) cuộc sống (của) Tôi trong một trạng thái hòa bình (của) tâm trí. Khẩu hiệu gần đây (của) Tôi xảy ra Tới “Nghĩ BPP”. Làm bối rối, (thì) không phải là nó. Cho phép tôi giải thích nó hoàn toàn.” Dưới đây là bản dịch của tôi: Bản người dịch: Đời người ngắn ngủi: Hãy nghĩ BPP “Đức Đại-la Lạt-ma, Giáo chủ Phật giáo và là Nhân vật cai trị nước Tây tạng cho đến năm 1959 đã có lần nói: “Tôi tin rằng mục đích chính yếu của cuộc sống chúng ta là tìm hạnh phúc. Điều đó thật rõ ràng. Cho dù ta có niềm tin tôn giáo hay không, cho dù ta tin vào tôn giáo này hoặc tôn giáo nọ, chúng ta đều đi tìm một cái gì tốt đẹp hơn trong đời. Cho nên, tôi nghĩ, cái động năng chính của cuộc sống chúng ta là hướng đến hạnh phúc… Và hạnh phúc có thể đạt được qua việc tập luyện trí tuệ.” Vị lãnh đạo dân tộc Tây tạng không nói đến “trí tuệ” chỉ trong ý nghĩa là khả năng nhận thức hay trí tuệ. Mà Ngài đã dùng từ này với nghĩa của từ ‘Sem’ trong tiếng Tây tạng, có nghĩa rộng hơn, bao gồm cả tri thức lẫn cảm quan, cả tâm lẫn trí. Bằng cách tạo dựng một kỉ luật nội tâm nào đó, chúng ta có thể biến đổi được thái độ và lối sống của mình. Tôi đã bắt đầu nghĩ về chuyện làm sao sống cảnh hoàng hôn của đời mình cho tâm hồn được an bình. Phương châm mới đây của tôi là: Hãy nghĩ BPP. Nghe khó hiểu nhỉ? Để tôi giải thích tường tận cho nghe nhe!” Có nhiều bạn có thể thất vọng, không vừa lòng với máy dịch ở giai đoạn này, nhưng máy là vật vô tri vô giác, bảo sao theo vậy, có sao làm vậy, đâu có lỗi, đâu có tội tình gì? Lỗi chăng là do ở người cung cấp thông tin cho máy xử lí theo hiệu lệnh của người. Chính ông Hùng cũng đã không ngần ngại nhìn nhận rằng sản phẩm của họ, cũng như sản phẩm của đa số ngôn ngữ khác, chưa thật sự có chất lượng tốt (chưa được đến 50% toàn hảo). Ông còn cho biết Nhóm Nghiên cứu tại Hà Nội, cũng như Nhóm Nghiên cứu tại Sài Gòn (tôi chưa có dịp làm quen họ), vẫn đang tiếp tục quá trình hoàn chỉnh sản phẩm này. Tôi không hiểu là nhà nước có đặt vấn đề ưu tiên cho dự án loại này không? Có giúp đỡ tài chính và kĩ thuật cho tư nhân khai thác không? Có chuyện giấu nghề, bảo vệ bản quyền không? Nhất là một khi sản phẩm này sử dụng vào mục đích thương mại. Làm sao tránh được những bọn hackers phá đám, chôm chỉa (piracy). Tôi đã từ Úc gửi mua được phần mềm EV-SHUTTLE (giá 290.000 đồng Việt Nam, khoảng 26 đô-la Úc) và sẽ thử nghiệm trong việc dịch tự động chiều từ Việt sang Anh trong nay mai. Thế nhưng, đó sẽ là đề tài cho một bài viết khác. Trở lại lời kêu gọi của tôi trong bài “Dịch thuật bằng máy: Niềm mơ ước còn hoài”, những tưởng chỉ là “tiếng kêu trên sa mạc”, nhưng mới đây tôi nhận được lá thư của một vị độc giả thuộc Nhóm nghiên cứu Việt ngữ tại California, gồm đa số là những chuyên viên tin học, đề nghị tôi hợp tác trong vai trò điều phối viên trong Dự án Máy dịch (Machine Translation Project). Hoạt động của Nhóm nghiên cứu này ra sao? Trong lá thư viết cho tôi ngày 21.12.2005, ông Phạm Hải, Tiến sĩ về khoa học điện toán (PhD in Computer Science) cho biết: “Chúng tôi thuộc Nhóm Nghiên cứu Việt ngữ, "bản doanh" ở California, đa số là những chuyên viên Tin học. Từ năm 1995, chúng tôi đã có kế hoạch làm software phiên dịch Anh Việt, nhưng không thành công vì thiếu bảo trợ tài chính. Từ đầu năm nay (2005) nhóm sẽ hoạt động theo đường hướng mới. Nhóm sẽ kêu gọi chuyên viên và học giả khắp thế giới làm việc trên căn bản tự nguyện và vô vị lợi, với mục đích nghiên cứu Việt ngữ, giúp nhóm thiết lập Machine Translation software. Software này sẽ là freeware cho cộng đồng người Việt khắp thế giới, giúp chúng ta phiên dịch các tài liệu Anh ngữ qua Việt ngữ. Việc phiên dịch này rất cần thiết trong việc phát triển đất nước. Chúng tôi bắt đầu bằng đề nghị một Dự án Ngữ Toán (
http://www.viethoc.org/content.php?menu=2400&page_id=56) qua sự bảo trợ của Viện Việt Học (Wesminster, California). Nhóm chúng tôi đã làm một software Chú thích Hán Việt (www.petrustvk.com/ChuThich.html).” Mới đây ông Phạm Hải còn cho tôi biết một tin vui: “Chúng tôi đã có kế hoạch xúc tiến giai đoạn 1 cho dự án Ngữ toán tiếng Việt. Trong vòng 6 tháng, chúng tôi sẽ công bố text corpus cho hơn 10.000 tiếng đơn và hơn 100.000 tiếng kép. Chúng tôi cũng xúc tiến song song dự án Từ điển ngữ nghĩa tiếng Việt, bắt đầu bằng Từ điển của Lê Ngọc Trụ và Lê Văn Đức.” Cái thú vị trước mắt, đối với tôi lúc này, là sự đáp ứng của những người cùng có chung một mục đích - mục đích phục vụ cho tiếng Việt, cho việc dịch thuật tiếng Việt trong chiều hướng ứng dụng kĩ thuật, công nghệ phần mềm tiên tiến, hiện đại trong đệ tam thiên niên kỉ. Cái thú vị nữa là, sau chuyến đi nửa vòng trái đất, tôi đã tình cờ bắt gặp được phần mềm… ngay trong lòng đất Mẹ!
Sydney, Tháng Giêng 2006 © 2006 talawas

Các bí quyết để học tiếng Anh tốt

Bạn có nằm mơ bằng tiếng Anh không?
Câu hỏi của bạn Hisham từ Ai Cập gửi tới Ban chuyên dạy tiếng Anh của Đài BBC: Xin hãy cho biết làm thế nào để tôi có thể nâng cao trình độ tiếng Anh của mình?
George Pickering trả lời:
Xin chào bạn Hisham. Rất khó có thể đưa ra một lời khuyên cụ thể mà không biết thêm đôi chút về bạn vì thế tôi sẽ đưa ra một số lời khuyên chung chung có thể sẽ hữu ích với những thính giả và độc giả khác nữa.
Điểm 1Cần hiểu rất rõ tại sao bạn muốn học tiếng Anh. Bạn cần tiếng Anh để phục vụ cho nghề nghiệp của mình hay để giúp bạn xin việc, hay để nói chuyện với những người nói tiếng Anh, hay để giúp bạn trong việc học?
Điểm 2Cần biết rõ bạn muốn tiếng Anh của mình giỏi tới mức độ nào. Bạn muốn giỏi tiếng Anh tới mức nào về các kỹ năng nói, nghe, đọc và viết?
Điểm 3Hãy thử hình dung và có khái niệm thật rõ về chính mình khi bạn đã đạt được trình độ tiếng Anh ở mức thành thạo mà bạn muốn. Liệu bạn sẽ nhìn và nghe thấy gìvà bạn sẽ cảm thấy như thế nào?
Điểm 4Nếu có thể hãy đăng ký theo học một khóa tiếng Anh. Nếu không thể làm được điều đó thì hãy tự đặt mình trong bối cảnh mà bạn cần phải dùng tiếng Anh...
Điểm 5Hãy tìm kiếm các cơ hội học và sử dụng tiếng Anh. Hãy nói tiếng Anh bất cứ khi nào có thể. Hãy nghe đài và CD bằng tiếng Anh, đọc và viết bằng tiếng Anh. Nếu bạn tìm những cơ hội như vậy thì nhất định bạn sẽ tìm thấy.
Điểm 6Hãy viết những từ ngữ mới vào một cuốn sổ ghi chép. Luôn mang cuốn sổ theo người và như vậy bạn có thể giở sổ ra xem bất kỳ khi nào bạn có chút thời gian rảnh rỗi.
Điểm 7Luyện tập, luyện tập và luyện tập. Có một câu thành ngữ trong tiếng Anh. Nếu bạn không muốn mất thì hãy sử dụng nó. Câu thành ngữ này rất đúng nhất là khi áp dụng trong trường hợp học ngoại ngữ.
Điểm 8Hãy kiếm một người có thể giúp bạn học tiếng Anh, có thể là đồng nghiệp của bạn. Tìm một người mà bạn có thể học tiếng Anh cùng. Hãy nói tiếng Anh với người đó hay các bạn có thể gửi tin nhắn bằng tiếng Anh cho nhau.
Điểm 9Học một ít một nhưng thường xuyên. Hãy tạo ra một thói quen học tiếng Anh mỗi ngày chỉ cần 10 phút thôi. Như thế sẽ tốt hơn là học mỗi tuần chỉ có một lần dù với thời gian dài hơn.
Điểm cuối cùngKhi bắt đầu buổi học hãy tự hỏi mình: "Mình muốn học gì hôm nay?" và vào cuối buổi học, tự hỏi mình: "Mình đã học được gì hôm nay?"
Có câu chuyện về một thầy giáo nọ đã nói với học sinh rằng Các em có biết không, các em đang có tiến bộ trong việc học tiếng Anh khi mà các em nói bằng tiếng Anh, nghĩ bằng tiếng Anh và ngủ mơ bằng tiếng Anh.
Một hôm một học sinh tới lớp đầy phấn khởi và nói với thấy: Thưa thầy, đêm qua em nằm mơ bằng tiếng Anh. Thầy giáo nói: Thật tuyệt. Thế em nằm mơ về điều gì? Người học sinh đáp: Thưa thầy em không biết, vì nó bằng tiếng Anh ạ.
Hisham, xin chúc bạn đạt được giấc mơ về học tiếng Anh của bạn.
George Pickering là một nhà tư vấn giáo dục, giảng viên tại trường Đại học Tổng hợp Sheffield, đồng thời là thanh tra của Hội đồng Anh chuyên kiểm tra các trường dạy tiếng Anh tại Anh Quốc.
Nghe câu trả lời
Bạn có thể tải câu trả lời về máy để nghe, và có thể in lời giải thích bằng tiếng Anh trong phần Bản tiếng Anh dưới đây.
Tải câu trả lời xuống để nghe

Theo BBC